Thứ Hai, ngày 12 tháng 3 năm 2012

BÀI GIẢNG: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (GV: XUÂN PHÚ)

Chương 1. DẪN NHẬP CÔNG TÁC XÃ HỘI
I. Khái niệm Công tác xã hội (CTXH), phương pháp CTXH
Định nghĩa công tác xã hội
Theo NASW - Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ định nghĩa về CTXH như sau:
CTXH là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân
Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montresal, Canada (IFSW):
 Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.
Từ định nghĩa trên đây có thể hiểu rằng CTXH như một ngành khoa học, một nghề nghiệp phi lợi nhuận. Sự giúp đỡ không mang ý nghĩa ban ơn, trả ơn hoặc bất kỳ một sự báo đáp nào. Đối tượng phục vụ của ngành nghề này chủ yếu nhằm vào những cá nhân, nhóm hay cộng đồng yếu thế để duy trì và ổn định cuộc sống của họ. Mục tiêu cơ bản của CTXH không chỉ nhằm vào việc cứu giúp những người cần được giúp đỡ mà là vì lợi ích, vì sự ổn định và tiến bộ của toàn xã hội
Phương pháp trong CTXH.
-    Phương pháp CTXH với cá nhân
-    Phương pháp CTXH với nhóm
-    Phương pháp CTXH với cộng đồng
II. Đôi nét về lịch sử hình thành Công tác xã hội tại Việt Nam
Cơ sở hình thành CTXH ở việt Nam bắt nguồn từ những tình cảm tốt đẹp giữa con người và con người. Trải qua các giai đoạn lịch sử, tinh thần nhân đạo và lòng yêu thương đồng loại luôn luôn gắn liền với quá trình hình thành phát triển của các chính sách xã hội, các luật lệ xã hội. Sự ra đời và phát triển CTXH ở Việt Nam có thể mô tả lại theo một trật tự về thời gian:
+ Thời kỳ phong kiến: thế kỷ XV (thời hậu Lê): Trong “Quốc triều hình luật” có những nội dung liên quan đến việc làm từ thiện. Ví dụ: có điều luật qui định rằng “những kẻ không ai nuôi dưỡng, quan sở tại có nhiệm vụ dựng lều, nuôi dưỡng, nếu ai không làm hoặc làm không tròn thì bị trừng phạt bằng roi”.
+ Thời kỳ thuộc Pháp (1862 – 1945): nhà Vua đã quan tâm xây dựng các phường, ngoài chức năng quản lí hành chính, phường còn là một đơn vị mang tính tự quản, tương trợ giúp xóa đói giảm nghèo, phòng chống tội phạm, xây dựng đời sống cộng đồng. Trong thời kỳ này phải kể đến sự ra đời của trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trường câm điếc Lái Thêu.
            + Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954): một khoá tập huấn về CTXH do Hội chữ thập đỏ Pháp tổ chức và chấm dứt khi cách mạng tháng tám nổ ra. Một số cán bộ được tập huấn đã vào Nam theo làn sóng di cư. Giai đoạn này đã ra đời các tổ chức CTXH chuyên nghiệp như: Nhà xã hội, Trường Cán sự xã hội Thevenet sau đổi thành Trường CTXH Caritas, Phòng xã hội.
            + Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (từ 1954 đến trước 30/04/1975): một số trường thành lập trong thời kỳ này và đã tham gia vào việc đào tạo các cán bộ xã hội như: Trường cán sự xã hội quân đội, Trường thanh niên phụng sự xã hội, Trường CTXH quốc gia, Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Vạn Hạnh. Vào năm 1970 đoàn chuyên nghiệp xã hội Việt Nam được thành lập.
              + Thời kỳ trường đổi mới (từ 1975 – 1985): sau ngày giải phóng các hoạt động an sinh xã hội, các dịch vụ xã hội hầu như tạm ngưng. CTXH trong thời kỳ này không phát triển
            + Thời kỳ sau đổi mới: do những vấn đề xã hội bức xúc dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường như: đói nghèo, bệnh tật, nghiện hút, mại dâm, trẻ em bị ngược đãi, trẻ em lang thang, buôn bán phụ nữ, thất nghiệp, di dân tự do….Các chính sách xã hội giáo dục CTXH của Nhà nước được đẩy mạnh, cùng với hoạt động hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ  như: Quỹ cứu trợ Nhi đồng anh, tổ chức Radda Barnen Thụy Điển, Quỹ Nhi Đồng Liên hợp quốc.
            CTXH trong những năm gần đây vẫn tiếp tục được quan tâm và đi vào chuyên nghiệp hóa theo hướng vừa đào tạo vừa thực hành. Tính đến năm 2000, bên cạnh số cán bộ có bằng cử nhân, bằng thạc sĩ CTXH được đào tạo trong và ngoài nước, còn có tới hằng trăm cán bộ được bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về CTXH thông qua những lớp tập huấn do các giảng viên, các chuyên gia trong và ngoài nước giảng dạy.
III. Đối tượng, mục tiêu và nguyên tắc của Công tác xã hội
1.  Đối tượng của công tác xã hội.
Đối tượng của CTXH là các vấn đề, hiện tượng của xã hội tác động lên con người như trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; ô nhiễm môi trường; nghèo đói…
2.  Mục tiêu của công tác xã hội
·        Giúp mọi người hiểu được vấn đề chính của mình
·        Xác định các nguy cơ gây ra các vấn đề
·        Giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những vấn đề gặp phải
·        Tìm ra những điểm mạnh và phát huy tiềm năng của các cá nhân, các nhóm và cộng đồng trong giải quyết vấn đề
3.  Các nguyên tắc hành động của CTXH
Khi làm việc với thân chủ, nhân viên xã hội phải thực hành theo các nguyên tắc sau đây:
3.1. Chấp nhận thân chủ
Chấp nhận thân chủ tức là không mặc cảm định kiến đối với thân chủ trong bất kể tình huống nào. Tôn trọng, thấu hiểu các nhận thức, hành vi của thân chủ. Không phê phán, áp đặt các thiên kiến chủ quan, tạo dựng niềm tin và ý thức tự chủ với mọi trường hợp của đối tượng.
Chấp nhận đối tượng là một thái độ rất khó thực hiện nhưng người làm CTXH phải tự rèn luyện hằng ngày. Có thể chúng ta không đồng tình với sai phạm của thân chủ, nhưng trước mặt chúng ta là một con người, và bất cứ con người nào, một cô gái lỡ lầm, một trẻ em phạm pháp, một thanh niên nghiện ma túy cũng có nhân phẩm, có giá trị, đơn giản chỉ vì họ là con người. Với một thái độ chấp nhận thật sâu sắc bên trong, ta mới bộc lộ được sự tôn trọng thật sự bên ngoài và hết sức thận trọng không phê phán hay kết án mà tìm hiểu hoàn cảnh đã đưa đối tượng tới hiện trạng. Cảm nhận được sự tôn trọng vô điều kiện của ta, thân chủ mới lấy lại sự tự trọng và tự tin để bộc lộ, giải bày tâm sự.
3.2. Thân chủ cùng tham gia giải quyết vấn đề
Nhân viên xã hội chú ý tới năng lực tiềm ẩn trong mỗi thân chủ để họ có thể phát huy, tự giải quyết các vấn đề cá nhân, nhân viên xã hội không “ làm hộ, làm thay, làm cho” thân chủ. Thân chủ phải tham gia giải quyết vấn đề vì chỉ họ mới có thể thay đổi bản thân và cuộc sống của họ. Một thực tế cho thấy rằng, nếu không có sự tham gia trực tiếp của thân chủ, nhiều vấn đề xã hội của thân chủ cũng trở nên bế tắc và không được tháo gỡ.
3.3. Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
Nhân viên xã hội chỉ là những nhân tố tác động, còn chính các thân chủ mới là nhân tố quyết định đến sự thay đổi hiện trạng của họ theo cách “tự cứu mình”. Bởi lẽ, đối với mỗi người chúng ta nếu có một quyết định quan hệ tới chính ta mà ta lại không tham gia ý kiến thì ta không thi hành, thậm chí còn tỏ ra khó chịu và chống lại để tự khẳng định mình. Vì CTXH không chỉ là xoa dịu mà giúp thân chủ thay đổi hành vi nếu là cá nhân, tạo sự chuyển biến xã hội nếu là cộng đồng, nên mọi quyết định phải có sự tham gia tích cực và sự tự quyết của thân chủ.
3.4. Cá biệt hóa
Mỗi con người là một cá thể, có thuộc tính thể chất và tinh thần khác nhau, bởi vậy các mục đích giá trị, nguyện vọng và hành vi của mỗi thân chủ cũng mang tính cá biệt. Nhân viên CTXH không thể hành động với các vấn đề của từng thân chủ theo cùng một cách thức. Nguyên tắc này đòi hỏi các nhân viên CTXH phải thấu hiểu các thân chủ, phải thành thạo như một bác sĩ bắt mạch, kê đơn đúng bệnh và tìm được các giải pháp chữa trị hiệu quả cho từng loại bệnh, từng đối tượng. Ví dụ: phụ nữ không chấp nhận kế hoạch hóa gia đình vì nhiều lí do khác nhau, người do thiếu hiểu biết, người do muốn có con trai nối dõi, người do chồng không chấp thuận, người do muốn sinh nhiều con để có thêm lao động. Vì vậy đối với từng lí do khác nhau của từng người mà nhân viên CTXH mới có được cách thức riêng để giúp đỡ từng thân chủ.
3.5. Giữ bí mật những vấn đề của thân chủ
Các thân chủ luôn mong được giữ kín các thông tin sau khi họ đã cung cấp cho nhân viên CTXH. Bản thân họ vốn mặc cảm bởi thân phận, bởi hoàn cảnh, và không phải với bất cứ ai họ cũng có thể dễ dàng giải bày, tâm sự. Việc giữ gìn những điều bí mật không chỉ là sự đòi hỏi chính đáng từ phía thân chủ, mà còn là yêu cầu về mặt nguyên tắc đối với bất cứ một nhân viên xã hội nào. Có như vậy niềm tin giữa thân chủ và nhân viên xã hội mới được củng cố, mối quan hệ giữa họ mới trở nên gần gũi và hiểu biết nhau hơn.
3.6. Nhân viên xã hội luôn ý thức về mình
Nhân viên CTXH phải luôn giữ gìn nhân cách và phẩm chất đạo đức của một nhân viên CTXH. Bởi mỗi việc họ làm, mỗi lời họ nói trực tiếp tác động đến nhận thức và hành vi của thân chủ. Tự ý thức được chính mình là đạo đức của nghề, là nguyên tắc của nghề. Như một tất yếu muốn giúp đỡ và cảm hóa được người khác, trước hết phải hoàn thiện chính mình,
3.7. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên xã hội và thân chủ
Đó là quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đồng cảm, chia sẻ. Sự mặc cảm và định kiến với thân phận người được giúp đỡ sẽ làm cho mối quan hệ trở nên xấu đi, tạo nên khoảng cách giữa người giúp và người được giúp. Nhân viên CTXH phải biết coi trọng lợi ích của thân chủ, không coi việc giúp đỡ của mình như là một sự ban ơn, một quan hệ xin cho hoặc tạo sự ỷ lại, trông chờ từ phía các thân chủ.
4.  Tiến trình giải quyết vấn đề trong Công tác xã hội
Tiến trình giải quyết vấn đề (tiến trình 6 bước)
Bước 1. Xác định vấn đề
Bước 2. Xây dựng kế hoạch giúp đỡ thân chủ
Bước 3. Tiến hành thực hiện kế hoạch can thiệp
Bước 4. Đánh giá
Bước 5. Kết thúc hoặc chuyển
Bước 6. Lượng giá, theo dõi, giám sát
Tiến trình công tác xã hội tập trung vào việc:
Phát hiện những mối quan tâm của con người (ví dụ như việc làm, thu nhập, tâm lý-tình cảm ...)
Xác định các nhu cầu của con người (ví dụ nhu cầu về ăn, ở, mặc hoặc an toàn, vui chơi, giải trí...)
Xác định các nguồn lực bên trong và bên ngoài của con người hoặc của cộng đồng (Nguồn lực bên trong: sức khoẻ, mong muốn vượt qua hoàn cảnh khó khăn, trí tuệ, kỹ năng hoặc những tiềm năng khác; nguồn lực bên ngoài: sự hỗ trợ của chính quyền, các tổ chức, đất đai...)
Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và mục tiêu để đáp ứng các nhu cầu đó.
5.  Quy điều đạo đức đối với nhân viên CTXH  
Quy điều đạo đức của nhân viên CTXH được xây dựng dựa trên nền tảng đạo đức chung của nghề, tuy vậy mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mỗi nền văn hóa lại có những điều mục riêng phù hợp với con người, với môi trường xã hội của chính mình.
Dưới đây là một số quy điều đạo đức của nhân viên CTXH
·   Tư cách: nhân viên CTXH phải giữ vững những tiêu chuẩn cao về tư cách đạo đức cá nhân của người nhân viên xã hội.
·  Tài năng và sự phát triển nghề nghiệp: nhân viên xã hội phải phấn đấu để trở thành người thành thạo trong thực hành nghề nghiệp và thực thi chức năng nghề nghiệp.
·  Tinh thần phục vụ: nhân viên xã hội phải coi bổn phận phục vụ nghề nghiệp CTXH là quan trọng.
·   Học hỏi và nghiên cứu: nhân viên xã hội làm công tác nghiên cứu cần có trình độ năng lực theo yêu cầu.
·   Quan tâm hàng đầu đến thân chủ: trách nhiệm hàng đầu của nhân viên xã hội là quan tâm đến thân chủ.
·   Quyền và đặc quyền của thân chủ: nhân viên xã hội phải khuyến khích tối đa sự tự quyết của thân chủ.
·   Giữ bí mật và riêng tư của thân chủ: nhân viên xã hội phải tôn trọng sự riêng tư của thân chủ và giữ bí mật các thông tin thu thập được về thân chủ trong tiến trình làm việc.
·   Tiền công: khi đưa ra mức lệ phí, nhân viên xã hội cần đảm bảo giá cả hợp lý, phải chăng và đúng mức so với dịch vụ phục vụ và phù hợp với khả năng chi trả của thân chủ.
·   Tôn trọng, bình đẳng và lịch sử: nhân viên xã hội phải đối xử với đồng nghiệp kính trọng, lịch sử, bình đẳng và lịch sử.
·   Đối với thân chủ của đồng nghiệp: nhân viên xã hội có trách nhiệm liên đới với các thân chủ của đồng nghiệp với sự quan tâm nghề nghiệp cao nhất.
·   Gắn bó với cơ quan: nhân viên xã hội phải trung thành với các cam kết của cơ quan sử dụng mình.
·   Giữ gìn tính niêm chính của nghề nghiệp: nhân viên xã hội phải tán thành và nâng cao các quan điểm giá trị, quy điều đạo đức, kiến thức và sứ mệnh của nghề.
·   Phục vụ cộng đồng: nhân viên xã hội cần phải tăng cường hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động xã hội phục vụ cộng đồng.
·   Trau rồi kiến thức: nhân viên xã hội có trách nhiệm các định, phát huy và sử dụng đầy đủ kiến thức cho công tác chuyên môn.
·   Tăng cường lợi ích chung của xã hội: nhân viên xã hội cần tăng cường lợi ích chung của toàn xã hội.
·   Nhân viên xã hội cần tin tưởng chính quyền và nhân dân đồng trách nhiệm trong việc phát huy công bằng xã hội, đảm bảo phúc lợi kinh tế xã hội cho mọi người.
·   Nhân viên xã hội tin tưởng nơi con người tự do, sống trong xã hội tự do, nơi đó sự nghèo đói không phải là định mệnh hay một sự trừng phạt mà là một điều kiện có thể và phải được thay đổi.
·   Nhân viên xã hội nguyện dấn thân vào công cuộc phát triển dẫn tới cuộc sống sung mãn cho mỗi người trong một xã hội công bằng và một nền kinh tế thịnh vượng.
6. Phân biệt CTXH với công tác từ thiện
      Bảng so sánh công tác xã hội và hoạt động từ thiện
           
Nội dung so sánh
Hoạt động từ thiện
Công tác xã hội chuyên nghiệp
1.Mục đích
- Xuất phát từ thiện tâm, thiện chí và nhân đạo mà giải quyết vấn đề khó khăn của đối tượng
- Nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lí cá nhân (làm phước, để đức, khẳng định vị trí xã hội,…) 
- Xuất phát từ thiện tâm, thiện chí và nhân đạo mà giải quyết vấn đề khó khăn của đối tượng
- Xem đối tượng và lợi ích của họ là mối quan tâm duy nhất
2.Phương pháp
- Vận động sự đóng góp của người khác rồi phân phối vật chất quyên góp được hay hàng hóa viện trợ đến đối tượng hưởng lợi
- Giải quyết vấn đề cấp bách như cứu trợ thiên tai, hỏa hoạn…
- Mang hình thức xin – cho, ban phát 
- Giúp đối tượng “có vấn đề” phát huy tiềm năng của mình để tự giải quyết vấn đề của chính họ và đóng góp cho xã hội
- Giải quyết vấn đề có tính lâu dài, toàn diện và tận gốc
- Phương pháp khoa học xã hội dựa trên kiến thức và kỹ năng chuyên môn để giúp cho đối tượng “tự giúp” và “tự cứu” mình  
3.Mối quan hệ giữa người giúp đỡ và được giúp đỡ

* Người giúp đỡ:



* Người được giúp đỡ:
- Lỏng lẻo, nhất thời, hoặc không có mối quan hệ nào
- Từ trên xuống với thái độ ban ơn


- Chủ động, quyết định, áp đặt, làm thay 


- Thụ động
- Là mối quan hệ nghề nghiệp chặt chẽ, mật thiết
- Bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau


- Tìm hiểu nhu cầu, tôn trọng quyền tự quyết và phát huy tiềm năng của đối tượng, gây ý thức và “làm với” đối tượng
- Chủ động tham gia giải quyết vấn đề của chính mình
4. Kết quả
- Vấn đề khó khăn thực sự chỉ  được giải quyết tạm thời, không triệt để. Đối tượng có thể trông chờ, đòi hỏi hoặc ỷ lại mà không tự vươn lên
- Vấn đề khó khăn thực sự được giải quyết. Đối tượng được giúp đỡ khắc phục khó khăn và tự lực vươn lên

            *  Ví dụ: Một trẻ em lang thang ra thành phố kiếm sống. Không may em bị tai nạn, gãy chân.
Cán bộ xã hội chuyên nghiệp sẽ giúp em bằng cách: đến gặp, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của em, xem em nghĩ gì? Muốn gì? Xem điều kiện gia đình của em ở quê có thể đưa em về được không?
Trên cơ sở hiểu biết suy nghĩ, các nhu cầu của trẻ và những điều kiện có được, cán bộ xã hội gợi ý cho em nghĩ về những người có thể giúp em và hỗ trợ em đưa ra kế hoạch trở về quê, trợ giúp tiền ăn, đi lại, trợ giúp gia đình em nuôi em trong 3 tháng. Sau khi điều trị khỏi vết thương có thể đưa em vào chương trình học nghề theo Quyết định 19/2004/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ. Trường hợp em không còn nơi nương tựa để về, gợi ý để em đưa ra ý kiến muốn ở với ai trong họ hàng hay vào Trung tâm Bảo trợ xã hội để áp dụng các chính sách trợ giúp đối với em.
Trong khi đó, ở trường hợp này, hoạt động xã hội từ thiện thông thường chỉ là đến thăm, tặng quà cho em và gia đình.
Như vậy, Công tác xã hội chuyên nghiệp khác với hoạt động từ thiện ở chỗ nó không giúp đưa “con cá” cho những người gặp khó khăn, không chỉ trợ giúp trước mắt mà trước hết, giúp mọi người bình tĩnh tìm hiểu: tại sao mình lại rơi vào hoàn cảnh này? Mình có thể tự giúp mình bằng cách nào? Sau đó mới nghĩ đến cách tìm nguồn trợ giúp từ bên ngoài như thế nào để vượt qua hoàn cảnh của chính mình.
Chương 2. MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
I. Công tác xã hội trong trường học
1.       Các giá trị của công tác xã hội trong trường học. 
Công tác xã hội tại trường học dựa trên các giá trị:
·        Mỗi học sinh đều được xem như là một cá nhân có những đặc thù riêng biệt và những khác biệt cá nhân này cần được thừa nhận.
·        Mỗi học sinh đều được quyền tham dự vào tiến trình học tập.
·        Mỗi học sinh đều có quyền bình đẳng, được đối xử ngang bằng trong học
đường, thụ hưởng các cơ hội giáo dục như nhau và các kinh nghiệm được
học tập phải phù hợp với nhu cầu của từng học sinh.
·        Tiến trình học tập không chỉ nhằm cung cấp công cụ để thu thập kiến thức trong tương lai mà còn là một thành phần cốt lõi cho việc phát triển sức
khỏe tinh thần của trẻ em.
2.      Mục đích của công tác xã hội tại trường học.
Mục đích tổng quát của CTXH tại trường học là nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống. Công tác xã hội tại trường học ứng dụng các nguyên tắc và phương
pháp của chuyên ngành công tác xã hội vào mục đích chính trong trường học, chú
trọng đến sự thay đổi hành vi của học sinh. Nhân viên xã hội tại trường học cần
lưu ý rằng sự mất quân bình của học sinh là kết quả của sự tương tác giữa các đặc
trưng của cá nhân học sinh với các điều kiện và hoạt động diễn ra trong môi trường gia đình và trường học.
Cho rằng trí thông minh của trẻ mang tính cố định, không thay đổi là một sai lầm. Môi trường gia đình và trường học có ảnh hưởng đến mức độ trí thông minh của trẻ và sự thành đạt trong học tập cũng như trong tương lai. Thành tựu đạt được đầu tiên ở trường học là điều cốt lõi cho thành tựu đạt được sau này. Tất cả trẻ em đều có khả năng học tập; điều quan trọng là phân tích kỹ năng theo học và mức độ hưng phấn của từng trẻ và áp dụng cách thức giảng dạy phù hợp với từng trẻ.
Cơ cấu kiến thức chính yếu để thực hành trong công tác xã hội tại trường học bao gồm : Hành vi con người và môi trường xã hội.
3.      Khái niện sinh thái học.
3.1. Khái niệm sinh thái học và hành vi con người.
Nhân viên xã hội cần nhận thức về sự ảnh hưởng của nhiều định chế lên việc hình thành các chức năng xã hội của đứa trẻ và các hệ thống này góp phần tạo ra tình huống hoặc khó khăn cho học sinh. Lý thuyết sinh thái đề cập đến các tương tác hỗ tương, phức tạp và rộng lớn giữa cơ thể sống và môi trường xung quanh.
Khái niệm sinh thái là khái niệm phù hợp nhất để xem xét trong công tác xã hội thực hành tại trường học và nhằm xác định mục tiêu can thiệp. Môi trường được định nghĩa như một toàn thể các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng, tác động và quyết định cuộc sống và sự phát triển của trẻ ( bao gồm gia đình, trường học, lối xóm, bệnh viện, truyền thông đại chúng…). Vì vậy, nhân viên xã hội ở cương vị phải hỗ trợ trẻ em, phụ huynh và cộng đồng để phát triển năng lực xã hội và đồng thời hỗ trợ trách nhiệm của nhà trường đối với hoài bão và nhu cầu của trẻ em, phụ huynh và cộng đồng.
Chức năng của nhân viên xã hội là làm việc tại giao diện giữa con người và
môi trường nhằm tạo sự ăn khớp giữa nhu cầu của học sinh và các nguồn tài
nguyên môi trường. Một phân tích về các thành tố của từng bên của giao diện này
bắt đầu bằng sự phân tích các hành vi ứng phó của cá nhân. Các hành vi ứng phó
được xác định như là các hành vi hướng trực tiếp đến môi trường, bao gồm những
nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện kiểm soát hành vi của chính bản thân mình (sử
dụng “ cái tôi” một cách có mục đích).
Có 3 loại hành vi ứng phó:
·        Hành vi ứng phó để tồn tại: ăn, ở, mặc, chăm lo sức khỏe…
·        Hành vi ứng phó để hội nhập: tham gia nhóm, câu lạc bộ, phát triển và
duy trì mối quan hệ giữa các cá nhân,…
·        Hành vi ứng phó để tăng trưởng và thành đạt: khả năng theo đuổi các
hoạt động tri thức và xã hội có ích cho chính mình và cho người khác.
Các hành vi ứng phó của cá nhân phát triển trong suốt cuộc đời con người.
Thông thường các hành vi này được biểu lộ bởi cá nhân hay nhóm có liên quan
đến việc tích tụ các thông tin về chính họ hay để phản hồi đối với môi trường đặc
thù (ví dụ như thông tin tiêu cực đeo đẳng và phản hồi từ gia đình và trường học
đối với đứa trẻ về các khả năng học tập của em có thể tạo ra và kéo dài hoạt động
học tập yếu kém).
Theo Albert Ellis : Hành vi ABC ( A = Bối cảnh kích thích, B = niềm tin – thái độ, cách nhìn vấn đề, cảm xúc -, C = hậu quả (hành vi được thể hiện)
A – B – C.
Theo Rudolf Dreikurs, có 4 mục tiêu của hành vi sai trái ở học sinh :
·        Để có sự chú ý về mình vì trẻ tin là mình không có giá trị.
·        Để thể hiện quyền lực: chỉ để chứng tỏ nếu trẻ có thể làm được điều gì mình
muốn và bất chấp áp lực của người lớn (không nghe lời, làm ngược lại điều phải
làm…)
·        Để trả thù: làm tổn thương ngườikhác và làm tổn thương mình (đánh lại, chọc giận…)
·        Để thể hiện một sự bất lực nào đó nhằm muốn được bị loại để không còn ai đòi hỏi gì ở mình nữa (trốn, ngủ, làm hỏng, …)
3.2. Các nguồn ngốc vấn đề của học sinh có thể bắt nguồn từ
3.2.1. Nguồn gốc từ gia đình:
Gia đình nghèo: phụ huynh học thức thấp, ít đọc sách, trẻ ít được hướng
dẫn, khuyến khích, ít mong đợi nơi trẻ (Hiệu ứng Pygmalion), từ đó trẻ không
nhận thức việc học là đưa đến thành đạt trong xã hội và không theo đuổi phát triển
các mục tiêu trong học vấn, ăn không được no, thiếu được chăm sóc, thiếu động
lực.
·        Gia đình có vấn đề: ly dị, mâu thuẫn, cha hoặc mẹ xa nhà thường xuyên,
gia đình có dính líu đến tệ nạn xã hội, bạo lực trong quan hệ, lạm dụng con cái…
·        Trẻ dành nhiều thời gian xem TV, xem phim, chơi game nhiều hơn.
3.2.2 Nguồn gốc từ trường học:
Phân biệt đối xử: Nặng trừng phạt hơn là hỗ trợ, tìm hiểu để đáp ứng nhu cầu của trẻ.
Chương trình học và phương pháp giảng dạy không hấp dẫn. Các quy định thiếu linh hoạt.
Lương giáo viên thấp nên không thấy hứng thú trong giảng dạy.
Giáo viên trút sự buồn phiền riêng tư của mình vào học sinh.
Năm 1969, một nhà giáo dục Mỹ William Glasser có nói :” Khi chúng ta có những trường học nơi mà học sinh, qua việc sử dụng những khả năng thích hợp của mình, có thể thành đạt, chúng ta sẽ ít phải giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia. Chúng ta sẽ có nhiều lệch lạc xã hội, nhiều người cần phải vào tù nhiều hơn, vào bệnh viện tâm thần nhiều hơn, cần nhân viên xã hội nhiều hơn để hỗ trợ cuộc sống của họ vì họ cảm thấy không thành đạt trong xã hội và cũng không muốn thử thành đạt nếu trường học không phải là nơi để trẻ được đáp ứng các nhu cầu cơ bản.”. Theo ông, trẻ có hai nhu cầu : Nhu cầu tình thương và nhu cầu tự thấy mình có giá trị. Nếu trẻ không được đáp ứng tại gia đình thì trẻ phải có cơ hội tại lớp học. Trường học là vị trí duy nhất để nhận diện trẻ bắt đầu phát triển hình ảnh thất bại. Giáo viên cần biết, phát hiện và ngăn ngừa điều này, phải tìm phương cách để làm cho lớp học của mình trở thành một kinh nghiệm thành đạt cho trẻ.
3.2.3 Nguồn gốc từ cộng đồng, xã hội:
Trẻ tham gia tụ tập băng nhóm không lành mạnh. Môi trường xung quanh có nhiều tiêu cực.
Người lớn không làm gương cho trẻ. Trẻ thiếu những điều kiện sinh hoạt vui chơi, giải trí.
4.      Để đạt mục tiêu công tác xã hội trong trường học
Để đạt mục tiêu, nhân viên xã hội cần phải:
·        Xây dựng các kỹ năng xã hội mới hoặc năng lực cho người lớn, phụ huynh và trẻ em. 
·        Xác định các nguồn tài nguyên mới và các cơ sở dịch vụ xã hội hỗ trợ trẻ em và gia đình cũng như triển khai các chương trình mới tại trường và tại cộng
đồng.
·        Thay đổi quan điểm người lớn (như các giáo viên thường có các quan điểm tiêu cực về học sinh).
·        Nâng cao kiến thức và sự thông hiểu (như tập huấn tại chức cho giáo viên về trẻ bị lạm dụng hoặc bị bỏ rơi).
·        Tái cấu trúc các hoạt động (như phụ đạo cho các học sinh gặp khó khăn trong học tập).
·        Phát triển các mối liên kết với các cơ quan tại cộng đồng (cơ sở dịch vụ cho trẻ và sức khỏe tâm thần).
·        Phát triển các vai trò mới cho giáo viên, phụ huynh (nguồn tài nguyên hỗ trợ).
·        Triển khai các chương trình mới khi có nhu cầu (như chương trình sau giờ học cho các trẻ có bố mẹ phải làm việc, chương trình giáo dục thể chất…)
·        Biện hộ cho học sinh khi học sinh phải ra trước Hội đồng kỷ luật của nhà trường.
5.      Các phương pháp áp dụng trong công tác xã hội tại trường học: Phương pháp cá nhân và phương pháp nhóm.
5.1. Phương pháp cá nhân:
Qua phương pháp cá nhân, nhân viên xã hội tiếp cận vấn đề, phân tích,
chẩn đoán các vấn đề của học sinh và các tác động của môi trường lên học sinh.
Ví dụ: Một học sinh 10 tuổi có hành vi bạo lực, hay đánh bạn, học kém. Em có
4 anh chị em. Mẹ buôn bán nhỏ, cha đi làm xa, lâu lâu về một lần. Em càng bạo lực hơn mỗi lần sau khi cha về thăm nhà. Em thường hay ở dơ, quần áo lếch thếch.
Hành động của em là muốn được chú ý đến và thể hiện quyền lực.
Công việc của nhân viên xã hội:
Xem lại sự hỗ trợ xã hội của địa phương đối với gia đình trẻ ở, thu nhập, sức khoẻ…)
Uốn nắn hành vi của em giúp em học tốt bằng cách giúp giáo viên tìm hiểu các nhu cầu cá nhân của em.
Giúp người mẹ trong cách chăm sóc và quan tâm đến con.
Giúp người cha trong quan hệ với con.
5.2. Phương pháp nhóm:
Áp dụng phương pháp nhóm khi có nhiều học sinh có vấn đề tương tự nhau.
Qua sinh hoạt nhóm, nhân viên xã hội giúp các học sinh có vấn đề học kinh nghiệm lẫn nhau trong cách giải quyết vấn đề.
Sử dụng áp lực của nhóm để thay đổi hành vi.
Thiết lập mục tiêu hợp tác, tạo môi trường thành đạt cho học sinh qua các sinh hoạt ngọai khóa để học sinh có thêm động lực mới.
Giúp học sinh giải quyết các vấn đề: thiếu tự tin, kiểm soát cơn nóng giận,
xây dựng mối quan hệ, vượt khó, tăng cường kỹ năng sống để phòng ngừa tệ
nạn xã hội…
6.      Các kỹ năng cần thiết
6.1. Kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ có mục đích với các cá nhân trong hệ thống thân chủ.
6.2. Kỹ năng quan sát có hệ thống và đánh giá nhu cầu và các đặc tính của học sinh, phụ huynh, hệ thống học đường, lối xóm của học sinh, cộng đồng và kỹ
năng đánh giá các ảnh hưởng của mối tương tác của các đặc tính này với đặc
tính của học sinh.
6.3. Thu thập thông tin thích hợp về các khía cạnh sinh học, tâm lý, văn hóa, cảm xúc, luật pháp, môi trường có ảnh hưởng đến tiến trình học tập của học sinh.
6.4.  Phân tích và tác động đến chính sách ở các cấp địa phương.
6.5. Tham vấn ý kiến những người trong hệ thống thân chủ nhằm phân loại tình huống; cung cấp và nhận thông tin, theo dõi tiến triển trong kế hoạch can thiệp hay thương thảo giữa các quan điểm trái ngược nhau.
6.6. Đánh giá các ảnh hưởng chi phối các mối quan hệ trường học – cộng đồng – học sinh – phụ huynh và diễn giải các ảnh hưởng đó.
II. Công tác xã hội với cộng đồng nghèo
1.    Định nghĩa Cộng đồng và PTCĐ
1.1. Định nghĩa về cộng đồng.
·        Là một tập thể người có thể cùng nhau chung sống trên một địa bàn nhất định.
·        Là một tập thể người có chung một nguồn gốc văn hoá, hoặc ngôn ngữ nhưng không nhất thiết cùng chung sống trên một địa bàn
·        Là một tập thể người có chung một sự ràng buộc về thể chế, về quy định, về quyền lợi.
·        Là một tập thể người có chung một nguyện vọng, một mục đích nhưng cũng có thể không cùng chung sống trên một địa bàn nhất định
Theo Macxit “cộng đồng là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân vì lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó (hoạt động sản xuất, tư tưởng gần gũi, tín ngưỡng, giá trị, chuẩn mực, tương đồng về điều kiện sống)”
Có rất nhiều cách định nghĩa PTCĐ.
1.2. Định nghĩa chính thức của LHQ từ 1956 là:
“Phát triển cộng đồng là một tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp và đời sống quốc gia” (UN-DESA,1972 )
Theo định nghĩa này PTCĐ bao hàm hai yếu tố quan trọng
Sự tham gia của dân chúng thể hiện qua những nỗ lực, tinh thần tự lực, những sáng kiến cải tiến của chính người dân, và sự hợp tác giữa người dân với chính quyền trong việc sử dụng các dịch vụ được cung cấp.
Sự hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp các dịch vụ của chính quyền theo hướng khuyến khích, thúc đẩy những sáng kiến địa phương, tính tự giúp, và tính tương trợ lẫn nhau nhằm tăng hiệu quả những cải tiến của cộng đồng. Sự hỗ trợ này có thể dưới hình thức các chương trình, dự án phát triển.
 1.3.  Murray và Ross định nghĩa
“ Tổ chức cộng đồng (TCCĐ) là một diễn tiến qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu  hay mục tiêu của mình, sắp xếp các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm đến tài nguyên (bên trong hay bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy. Thông qua đó sẽ phát huy những kỹ năng và thái độ hợp tác với nhau trong cộng đồng” (community Organization: theory and practice)
1.4. Một định nghĩa gần đây hơn phản ánh xu hướng mới của PTCĐ:
“PTCĐ là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng đồng được tăng sức mạnh bởi các kiến thức và kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hoá chúng, huy động tài nguyên để giải quyết chúng và hành động chung. PTCĐ không phải là một cứu cánh mà là một kỹ thuật, nó nhằm vào sự tăng sức mạnh cho các cộng đồng để tự quyết định về sự phát triển của cộng đồng mình và sự định hình của tương lai cộng đồng mình. Mục đích cuối cùng của PTCĐ là sự tham gia chủ động với tư cách tập thể của người dân vào phát triển” (Redo - Trường CTXH và PTCĐ - Đại học Philippin)
Tóm lại, PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến CĐ nghèo thiếu tự tin thành CĐ tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các họat động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực, phát triển. Sau đây là một mô hình về quá trình làm PTCĐ
Cộng đồng thức tỉnh: nhiều dự án cải thiện đời sống được đưa vào cộng đồng nhưng người dân không được hiểu đầy đủ. Tốt nhất là nên giúp cộng đồng ý thức, phân tích những khó khăn, nhu cầu và tiềm năng sẵn có để giải quyết các vấn đề có liên quan đến đời sống hàng ngày. Việc giúp đỡ này thông qua các buổi tiếp xúc, thăm hỏi ý kiến, bàn thảo các vấn đề ưu tiên, và xác định những mặt thuận lợi, khó khăn. Các khóa tập huấn trong cộng đồng cũng giúp người dân và cán bộ địa phương hiểu đầy đủ hơn về tình trạng và tiềm năng sẵn có về nhân lực, tài nguyên của cộng đồng. Nhờ vậy người dân sẽ năng động hơn trong việc giải quyết vấn đề của họ.
Cộng đồng tăng năng lực: những người nghèo, những người dân bình thường nếu được tập hợp thành những nhóm nhỏ để được đầu tư, được tập huấn bàn thảo chung, tập lựa chọn nhiều cách giải quyết vấn đề, và đề ra những hành động chung để cải thiện đời sống gia đình và cộng đồng, cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài (tín dụng, kỹ thuật, thông tin...). điều này sẽ làm cho người dân và cán bộ tăng năng lực hợp tác, quản lý, giám sát và lượng giá dự án. Quá trình tham gia vào dự án của người dân cũng chính là quá trinhfgiair quyết các mâu thuẫn và không ngừng củng cố sự vững mạnh các tổ nhóm hợp tác trong CĐ. Đây chính là quá trình tăng năng lực cộng đồng.
Cộng đồng tự lực: mục đích của PTCĐ không chỉ là tạo ra những thay đổi về lượng (có nhà cửa, vốn liếng, thu nhập...) mà quan trọng hơn cả là một tinh thần tự nguyện, biết hợp tác, biết chia sẻ trách nhiệm, và biết huy động tài nguyên từ bên trong và bên ngoài khi gặp các khó khăn, để cải thiện cuộc sống trong CĐ. Như vậy, các chỉ báo một cộng đồng tự lực bao gồm: cả tăng trưởng về lượng, về sự tham gia, về năng lực quản lý và lãnh đạo của người dân trong CĐ.

2. Mục đích của phát triển cộng đồng
Nhiều chương trình thất bại vì người ta chỉ đặt nặng các thành  tích vật chất như hạ tầng cơ sở, tiện nghi công cộng hay các dịch vụ xã hội. Các chương trình được đánh giá trên cơ sở dự án được hoàn thành hơn là những chuyển biến về xã hội và con người.
Trọng tâm của PTCĐ là con người (thành viên của cộng đồng) và phát triển là phát triển con người vì con người. Vì vậy thước đo của phát triển là sự thể hiện tiềm năng, khả năng của con người để làm chủ môi trường của chính con người. Những tiến bộ về vật chất không kèm theo sự phát triển khả năng con người thì chỉ là hời hợt, tạm bợ.
Do vậy mục đích chính của PTCĐ là  
Tạo được những chuyển biến xã hội để đạt đến một sự cải thiện cân bằng các điều kiện sống về vật chất và tinh thần.
Xây dựng và củng cố các nhóm, các tổ chức hợp tác trong CĐ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện CĐ.
Phát huy tối đa sự tham gia, nội lực của người dân trong tiến trình phát triển (đặt biệt là người nghèo và người thiệt thòi)
Thực hiện công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi nêu lên nguyện vọng của mình và tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển.
3. Nhóm đối tượng của PTCĐ
Càng ngày người ta càng thừa nhận rằng phương pháp PTCĐ có khả năng giải quyết vấn đề phát triển và những thách thức mà những cộng đồng ở nông thôn và thành thị ở các nước đang phát triển gặp phải cũng như những vấn đề của các nhóm bị mất quyền lợi, bị thiệt thòi và bị gạt ra bên lề xã hội ở những nước đã phát triển.
Phương pháp PTCĐ tạo điều kiện cho các thành viên trong CĐ được tham gia vào mọi phương diện liên quan đến tiến trình phát triển.
Tuy nhiên kinh nghiệm làm công tác PTCĐ ở các nước đang phát triển trong quá khứ đã cho thấy nếu lấy toàn bộ CĐ làm đối tượng thì những lợi ích phát triển ít đến tay nhóm người nghèo nhất đa số lợi ích rơi vào nhóm khá giả, nhóm có tiềm năng kinh tế.
Nhận thức mới này dẫn đến việc hình thành chiến lược phát triển mà đối tượng là những nhóm bị thiệt thòi (người nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người nông thôn, phụ nữ, người trong những hoàn cảnh khó khăn). Mục đích là nhằm tăng cường quyền lực cho cộng đồng. Đó là những chiến lược Phát triển có sự tham gia”, “Phát triển lấy người dân làm trọng tâm bổ sung cho chiến lược PTCĐ trước đây.
Phát triển lấy người dân làm trọng tâm
Trước tiên quan tâm đến nhân phẩm và tiềm năng của người dân
Là một tiến trình nhằm cải thiện an sinh của người dân, nhấn mạnh đến sự tham gia của dân vào tiến trình phát triển để đạt mục đích trên.
Là một mô hình phát triển xuất phát từ kinh nghiệm của người dân, văn hóa của địa phương và lợi ích của phát triển phải tới dân, đặc biệt là người nghèo.
Nội dung của phát triển con người: gồm 4 thành tố :
3.1. Tăng năng suất: người dân phải được hỗ trợ tăng năng suất và tham gia tích cực vào tiến trình lao động tăng thu nhập, việc làm có lương/thù lao. Tăng trưởng về kinh tế chỉ là một mặt của phát triển con người.
3.2. Bình đẳng: mọi người dân phải có cơ hội như nhau trong phát triển. Những hạn chế về cơ hội tiếp cận với tài nguyên, kinh tế, quyền lực cần được tháo gỡ, để người dân có cơ hội tham gia và thụ hưởng các lợi ích của phát triển.
3.3. Tính bền vững: người dân được quyền tiếp cận với những cơ hội kinh tế và quyền lực nhưng phải đảm bảo sự phát triển lâu dài không chỉ có lợi cho thế hệ này/một nhóm người lúc này mà còn phải vì lợi ích của thế hệ mai sau. Tất cả mọi tài nguyên vật chất, tài chánh, nhân lực, môi trường phải được bồi đắp để tăng khả năng tái sản sinh.
3.4. Tăng năng lực/ quyền lực: Phát triển phải xuất phát từ chính người dân, vì dân. Người dân phải được tham gia vào việc lấy quyết định và vào quá trình phát triển đang ảnh hưởng đến đời sống của họ.
4. Các giá trị trong Phát triển cộng đồng
An sinh của người dân: mọi người đều có quyền được phát triển, được có công ăn việc làm, được đảm bảo cuộc sống đầy đủ nhân phẩm, có giá trị, được tôn trọng và được bảo vệ.
Công bằng xã hội:  mọi người đều có quyền, có cơ hội như nhau để thỏa mãn nhu cầu cơ bản và giữ gìn giá trị và nhân phẩm của mình. Công bằng xã hội đòi hỏi sự phân bố lại tài nguyên và quyền lấy quyết định trong xã hội.
Tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội : chúng ta tin rằng con người với tư cách là một thành tố của CĐ và XH không chỉ quan tâm đến cá nhân mình mà còn có trách nhiệm với đồng loại, và cùng nhau giải quyết những nhu cầu, vấn đề chung.
Các nguyên tắc hành động trong Phát triển cộng đồng
1     Bắt đầu từ nhu cầu, tài nguyên và khả năng của người dân
2     Tin tưởng vào dân, vào khả năng thay đổi và phát triển của họ
3     Đáp ứng nhu cầu và mối quan tâm bức xúc hiện tại của họ
4     Khuyến khích người dân cùng thảo luận, lấy quyết định chung, hành động chung để họ đồng hóa mình với những chương trình hành động đó.
5     Bắt đầu từ những hoạt động nhỏ để dẫn đến các thành công nhỏ
6     Vận động thành lập nhóm nhỏ để thực hiện dự án, không chỉ để giải quyết được một vấn đề cụ thể, mà còn để củng cố, làm vững mạnh tổ chức tự nguyện của người dân.
7     Khi tổ chức cần cung cấp nhiều cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau và phát sinh các hoạt động chung, qua đó các thành viên vừa đạt được cảm xúc tự hoàn thành nhiệm vụ vừa góp phần cải thiện an sinh cho nhóm, cả hai điều này đều quan trọng như nhau.
8     Quy trình “Hành động – Suy ngẫm rút kinh nghiệm – Hành động mới” cần áp dụng để tiến đến những chương trình hành động chung lớn hơn, trình độ quản lý cao hơn.
9     Nếu điều hành có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn theo nhóm là dịp để tổ chức nhóm trưởng thành.
10                         Thiết lập mối liên kết và liên đoàn với các tổ chức khác để có thêm hỗ trợ và hợp tác với nhau.
III. Tầm quan trọng của công tác xã hội ở các vùng nông thôn
Trong công cuộc phát triển xây dựng nông thôn mới hiện nay, cùng với việc phát triển kinh tế nhanh chóng. Bộ mặt nông thôn Việt Nam đang từng bước thay đổi, kèm theo đó là những vấn nạn chung như: sự chênh lệnh giàu nghèo; ô nhiêm môi trường; thất nghiệp; trẻ lao động sớm...đã và đang ảnh hướng tới quá trình phát triển chung của xã hội. Vì vậy, CTXH giúp giải quyết các vấn đề trên tạo bước phát triển bền vững.
Để giải quyết được các vấn đề thì của nông thôn bằng phương pháp CTXH thì:
Nhân viên CTXH phải nắm chắc nội dung, tính chất các vấn đề của xã hội và nhu cầu của nông thôn cần phải can thiệp. Những nhu cầu xã hội đó phải mang tính chất phổ biến chung cho nhiều người, được mọi người ở nông thôn cùng quan tâm.
Phân tích và lập những phương án hoạt động CTXH, đặc biệt chú ý tới năng lực tiềm ẩn trong mỗi cộng đồng nông thôn, khai thác, phát huy tối đa các nguồn lực bên trong và bên ngoài cộng đồng, đặc biệt phải huy động được sự tham gia của các thành viên thuộc mọi tầng lớp, mọi thành phần xã hội, bởi chính họ mới tạo nên sức mạnh của cộng đồng.
Cần nhận thức đầy đủ về phương pháp phát triển cộng đồng như là một tiến trình có sự liên hệ hữu cơ giữa cá thể và cộng đồng. Thấu hiểu năng lực của cá nhân, nhóm trong cộng đồng, phát huy vai trò thủ lĩnh, điều tiết hợp lý hoạt động của từng cá nhân, từng nhóm trong cộng đồng.
Thường xuyên theo dõi, đánh giá các tiến trình CTXH với phương pháp PTCĐ nông thôn. Lượng giá các kết quả, kịp thời điều chỉnh các cách thức làm việc với nhóm, với cộng đồng nông thôn, bổ sung kế hoạch và các biện pháp hành động tùy theo từng mức độ tiến triển, phù hợp nhu cầu xã hội của cộng đồng nông thôn.
Những yêu cầu cụ thể để tiến hành CTXH trong cộng đồng nông thôn:
Cần thu thập thông tin về cộng đồng thông qua tài liệu, qua khảo sát, điều tra nghiên cứu khoa học (quá tình hình thành, những đặc điểm về dân cư...). Thiết lập mối quan hệ tin cậy với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tại địa phương từ đó xác định mục đích, đối tượng và nội dung hoạt động của các dự án nâng cao năng lực cộng đồng.
Tìm hiểu các vấn đề kinh tế: cơ cấu lao động, nghề nghiệp, mức thu nhập, mạng lưới các dịch vụ, hoạt động thương mại, hiệu quả kinh tế, các tiềm năng lao động, lực lượng lao động.
Các vấn đề về chính trị: cơ cấu, chức năng và vai trò hệ thống các tổ chức, đoàn thể ở cộng đồng, sự đồng thuận chính trị giữa cá nhân và cộng đồng, sự tuân thủ, sự chi phối của các luật, lệ, hương ước...
Các vấn đề giáo dục: mạng lưới trường học, đội ngũ thầy, trò, chất lượng, thành tích dạy và học, mối quan tâm của cộng đồng đó với giáo dục...
Hệ thống văn hóa xã hội: mục đích, hoạt động và ảnh hưởng của các đoàn thể, tổ chức tôn giáo, các thành phần văn hóa xã hội, dân tộc, tính đa dạng, sự bình đẳng...
Các vấn đề liên quan đến đời sống tâm lý xã hội của cộng đồng, tính tự chủ, sự phụ thuộc, những thuận lợi và khó khăn, những mâu thuẫn, sự xung đột, cũng nằm trong một tiến trình cần được phân tích vào trong quá trình nghiên cứu của bất cứ một cộng đồng nông thôn nào.
Một số kháo khăn trong quá trình thực hiện phương pháp CTXH với cộng đồng nông thôn:
Những mâu thuẫn nảy sinh giữa các cá nhân, các nhóm xã hội về quyền lợi, về nhu cầu, về sự hỗ trợ và bảo đảm xã hội.
Mỗi cá nhân có một mục tiêu riêng, những hoàn cảnh riêng vì vậy các nhu cầu giúp đỡ cũng có những khác biệt, thậm chí không phù hợp với mục tiêu chung của cộng đồng.
Thiếu vai trò lãnh đạo trong nhóm và cộng đồng, những nhân viên CTXH không thể làm thay công việc của mỗi thành viên trong cộng đồng, khó tìm ra những thủ lĩnh có thể làm nhiệm vụ dẫn dắt, lôi kéo phong trào...
Chương 3. MỘT SỐ KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Kỹ năng là cách làm, là phương pháp làm việc. Người có kỹ năng là người thành thạo, khéo léo trong thực hiện công việc. Người có kỹ năng làm việc sẽ đem lại kết quả tốt trong công việc. Kỹ năng có thể học được qua lý thuyết và qua thực hành công việc một cách thường xuyên.
Vì sao nhân viên xã hội cần có những kỹ năng cơ bản?
Công tác xã hội là một nghề giúp đỡ mọi người có khó khăn, có vấn đề cần giải quyết. Đề việc trợ giúp có hiệu quả, người làm công tác xã hội cần có những cách làm phù hợp, có khả năng sử dụng những lý thuyết học được vào làm việc với từng trường hợp để đem lại hiệu quả. Kỹ năng là một trong 3 bộ phận quan trọng mà người cán bộ xã hội cần có: Đó là đạo đức nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn và kỹ năng làm việc.
1. Kỹ năng giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, cảm xúc, suy nghĩ...qua lại giữa hai người hoặc nhiều người với nhau
Nhân viên CTXH phải có khả năng làm giảm bớt những khó khăn của những người yếu thế, khơi dậy lòng tự trọng của họ, xác lập mối quan hệ thích ứng với các đối tượng thân chủ, xây dựng những kỹ năng giao tiếp thân thiện làm thay đổi các vị trí, vai trò vốn bị ngăn cách trước đó.
Trong quá trình giao tiếp nhân viên CTXH cần thực hiện có hiệu quả các thông tin giao tiếp, trước hết là việc thu nhận các thông tin từ phía thân chủ một cách chính xác, đầy đủ, sau đó là sự truyền đạt các thông tin
2. Kỹ năng tham vấn
Tham vấn là một phương cách hỗ trợ. Thông qua sự tương tác giữa hai bên, nhân viên xã hội giúp thân chủ lấy lại niềm tin và hy vọng, từ đó biết nhận lấy trách nhiệm giải quyết vấn đề của chính họ. Khi thân chủ có vấn đề khó khăn và đang bế tắc trong giải quyết vấn đề thì thường họ thụ động, cảm thấy bất lực, thiếu khả năng hoặc chưa tận dụng hết khả năng của họ hoặc họ có cái nhìn lệch lạc về chính họ, về người khác và về môi trường sống.
Mục đích của tham vấn là giúp thân chủ thay đổi hành vi, tăng sức khỏe tinh thần, thêm năng lực giải quyết vấn đề, ngăn ngừa và làm giảm thiểu những tác hại của vấn đề và biết lấy quyết định.
Kỹ thuật tham vấn: Khởi đầu cuộc phỏng vấn phải tạo ấn tượng ban đầu tốt đẹp nơi thân chủ; Đánh giá các kinh nghiệm của lần gặp gỡ trước đây nếu có; Tìm hiểu những mong đợi của thân chủ; Nhận diện các cảm giác và mối quan tâm của thân chủ; Xác định mục tiêu và phương hướng tới; Giao việc cho thân chủ cần phải thực hiện ở nhà; Kết thúc buổi tham vấn.
Các kỹ năng cần thiết trong tham vấn
Các kỹ năng chủ yếu trong tham vấn chính là các kỹ năng truyền đạt, bao gồm:
- Biết nói và hỏi một cách hữu hiệu, biết khai thác các dữ kiện.
- Biết đáp ứng và khuyến khích thân chủ bộc lộ và bộc lộ rõ hơn, đưa ra những hướng dẫn trực tiếp và kịp thời.
- Biết diễn đạt lại cảm nghĩ của thân chủ, chú ý đến hành vi không lời của chính mình và của thân chủ.
- Lắng nghe và hiểu thân chủ mà không bị chi phối bởi những thành kiến riêng tư của mình.
3. Kỹ năng lập kế hoạch
Các bước lập kế hoạch (tùy vào tình hình thực tế của mỗi ca CTXH trong phát triển nông thôn)
- Xác định nhu cầu của thân chủ, cộng đồng
- Xây dựng mục tiêu cụ thể dựa trên nhu cầu của thân chủ
- Các hoạt động nào cần làm để đạt được mục tiêu đề ra?
- Ai thực hiện hoạt động đó?
- Ai là người trợ giúp để hoạt động được thực hiện?
- Phương pháp nào được tiến hành?
- Các nguồn lực (tài chính, con người cần có)?
- Thời gian để thực hiện hoạt động
Kết thúc bước 2 là một kế hoạch được lập, trong đó có mục tiêu và các hoạt động cụ thể.
4. Kỹ năng vấn đàm
Đây là kỹ năng mang tính đặc trưng của CTXH, nó không dừng lại ở việc hỏi đáp theo cách các nhà xã hội học thường làm. Kỹ năng vấn đàm vừa thể hiện kỹ năng của phỏng vấn, vừa thảo luận, bàn bạc, nhằm cùng giải quyết một vấn đề xã hội mà người cán bộ làm CTXH rất tin tưởng, lạc quan, còn các thân chủ luôn hy vọng những điều tốt đẹp đến với họ.
Để thực hiện tốt kỹ năng vấn đàm cán bộ CTXH phải luôn thể hiện một tính cách cởi mở, luôn hướng thiện, dễ gần gũi, tỏ ra đáng tin cậy trong bất kỳ tình huống nào của cuộc vấn đàm.
Tạo một không khí thoải mái, kích thích được tính tích cực trong đối thoại, nội dung của câu hỏi được nêu ra trong quá trình vấn đàm đảm bảo thu nhận được thông tin, tránh những câu hỏi tối nghĩa hoạc khó trả lời.
Kiên trì trao đổi, thảo luận, hướng tới sự thống nhất các quan điểm, những kết luận chung mang tính xây dựng. Tránh các hành vi lệch lạc, những ý kiến vượt qua ngoài phạm vi chủ thể mà cuộc vấn đàm hướng tới.
Cũng cần lưu ý: cuộc vấn đàm có thể bị phá vỡ, khi trong quá trình đối thoại, người nói bị ngắt lời một cách thiếu tế nhị, hoặc có sự khích bác, chê bai lẫn nhau, hoặc có những tranh cãi không cần thiết dễ dẫn đến căng thẳng, tự ái...


Chương 4. CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1. Các tổ chức công tác xã hội chính thống và phi chính thống ở nông thôn
Các tổ chức chính thống: là những tổ chức nằm trong hệ thống chính quyền như  hệ thống các phòng ban trực thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội như phòng Lao động, Uỷ ban nhân dân, các Hội đoàn thể thuộc Đảng...
Các tổ chức phi chính thống: là những tổ chức không nằm trong hệ thống nhà nước. Các tổ chức này chủ yếu được thành lập dựa trên tinh thần tự nguyện và không bị ràng buộc về mặt văn bản, giấy tờ. Các tổ chức này có thể là các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, tổ chức phi chính phủ....
2. Diễn tiến thực hiện công tác xã hội với cộng đồng nông thôn
2.1. Cơ sở của công tác xã hội với cộng đồng nông thôn
Trong công tác xã hội với cộng đồng nông thôn nhân viên CTXH không tiếp xúc trực tiếp với cá nhân khác hàng mà làm việc với cơ quan hay cộng đồng để có được những chính sách nhằm cải thiện đời sống của người dân trong cộng đồng (hay khách hàng đối tượng phục vụ của cơ quan). Công việc này có tính chiến lược, đòi hỏi nhiều kỹ năng, trong đó có kỹ năng vận động, tổ chức, hoạch định, thông tin, thuyết phục...
Do bản chất công việc nên nhân viên CTXH cộng đồng nông thôn thường là những người thấy được vấn nạn trước tiên, thí dụ tình trạng thiếu dịch vụ chăm sóc người già, thiếu chỗ giải trí cho trẻ em, nạn ô nhiễm môi trường gây ra bởi thói quen sản xuất, chăn nuôi của người dân, tình trạng an ninh xuống cấp trong khu xóm, ấp...Khi vấn nạn ảnh hưởng không những đến cá nhân mà cả một cộng đồng, nó đòi hỏi cách tiếp cận và kỹ năng riêng. Quan trọng nhất trong các kỹ năng này là kỹ năng thuyết phục và làm việc hiệu quả với mọi người để đạt được một hay nhiều thay đổi tích cực nào đó cho cộng đồng nông thôn.
Để đạt được những thay đổi trong cộng đồng nông thôn chúng ta cần các yếu tố sau:
Ø     Người dân sống trong cộng đồng có khả năng giải quyết vấn nạn của họ
Ø     Người dân muốn thay đổi và có thể thay đổi được
Ø     Người dân nên tham gia vào quá trình lập kế hoạch, điều chỉnh và kiểm soát những thay đổi diễn ra trong cộng đồng của họ
Ø     Thay đổi xuất phát từ cộng đồng thường có ý nghĩa thiết thực và lâu dài hơn thay đổi áp đặt từ bên ngoài vào
Ø     Cách tiếp cận toàn diện có thể giải quyết được những vấn nạn mà cách tiếp cận riêng lẻ không giải quyết được.
Ø     Dân chủ đòi hỏi sự tham gia tích cực của quần chúng vào công việc của cộng đồng.
Ø     Cộng đồng cần giúp đỡ giải quyết vấn nạn chung giống y như các nhân cá nhân cần giúp đỡ giải quyết vấn nạn riêng.
2.2. Diễn tiến thực hiện công tác xã hội với cộng đồng nông thôn
      2.2.1 Giai đoạn lượng định
a)      Xác định vấn nạn
Vấn nạn thường biểu lộ rõ rệt, tuy nhiên nhân viên CTXH cần tìm hiểu kỹ lưỡng xem vấn nạn trầm trọng như thế nào, bao nhiêu người bị ảnh hưởng, vấn nạn được cộng đồng biết đến hay chưa, nếu chưa phải làm gì để giáo dục cho cộng đồng biết, yếu tố nào tạo nên vấn nạn...sau khi thu thập đấy đủ những dữ kiện về vấn nạn, nhân viên CTXH cần thực hiện các công việc sau:
Thứ nhất: suy xét cận thận xem các vấn nạn có thể giải quyết bằng các biện pháp can thiệp ở cấp vĩ mô hay không.
Thứ hai: chia vấn nạn ra thành nhiều phần với các ưu tiên giải quyết cho mỗi phần.
Thứ ba: chuyển đổi các vấn nạn thành nhu cầu.
Cuối cùng: quyết định nhu cầu nào cần giải quyết và có thể giải quyết.
b)     Xác định những lực cản và lực hỗ trợ
Những lực này có thể từ cộng đồng hoặc từ chính bản thân của nhân viên CTXH
c)     Xác định mục tiêu chính
Vấn nạn có thể phức tạp, để giải quyết có khi phải đạt được nhiều mục tiêu, do đó cần phải xác định mục tiêu chính
d)     Ước tính chi phí, nguồn tài trợ và lợi ích
Đây là yếu tố quan trọng cần phải có để thuyết phục các cá nhân, đoàn thể, tổ chức tư nhân và chính quyền tham gia vào việc thực hiện sự thay đổi.
e)     Xét duyệt lại những rủi ro cho bản thân
CTXH nông thôn nhằm đạt tới những thay đổi liên quan đến nhiều người, sẽ có người bênh kẻ chống. Thay đổi có thể sẽ làm cho cán bộ chính quyền làm việc nhiều hơn. Viên chức Nhà nước, trong bất kì quốc gia nào, chế độ nào, đều có chung một đặc tính ấy là thích làm việc tối thiểu và hưởng lương tối đa, thích lợi dụng quyền lực để làm lợi cho bản thân, gia đình và phe cách. Vì vậy, nhân viên CTXH CĐ nông thôn có thể bị coi là những kẻ gây rối. Để đạt được những thay đổi tốt đẹp cho CĐ, nhân viên CTXH phải hết sức cẩn trọng để tranh thủ được sự hỗ trợ của số đông, thuyết phục những người có quyền lực về tình trạng cả hai cùng thắng để thay vì đối đầu trong tình thế kẻ thắng người thua.
      2.2.2 Lên kế hoạch
Công tác lượng định hoàn tất chu đáo sẽ khiến cho giai đoạn lên kế hoạch được dễ dàng. Sau đây là những điểm chính của kế hoạch CTXH vói cộng đồng nông thôn.
Xác định kế hoạch.
Xác định các nguồn tài nguyên có thể vận dụng: tài nguyên gồm nhân lực và vật lực, những người có thế lực, tiền bạc, phương tiện, thời gian, uy tín...cần thu hút họ tham gia để ủng hộ kế hoạch
Xác định mục tiêu, các bước nhỏ để dẫn tới mục tiêu và các việc cần làm để đạt được mục tiêu.
      2.2.3 Thực hiện kế hoạch
Ai làm việc gì, thời gian nào. Điều quan trọng nhất trong việc thi hành kế hoạch là vô hiệu hóa những lực cản và hành động bền bỉ, mạnh mẽ, kiên trì, đúng người, đúng chỗ, và linh động (luôn luôn xét duyệt các công việc để kịp thời điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với các tình huống mới). Lực cản có thể vô hiệu hóa bằng thuyết phục (phương pháp mọi bên đều được lợi, thay vì đối đầu trong thế kẻ thắng người thua) hay bằng áp lực của số đông
     


2.2.4 Kết thúc và lập chương trình theo dõi
Kế hoạch CTXH với CĐ nông thôn được chấm rứt khi nó đã đạt được kết quả, hoặc rõ ràng không thể đạt kết quả mong muốn, hoặc không còn tài nguyên (nhân sự, tài chính, thời gian...) để tiếp tục. Kế hoạch cũng có thể bị chấm dứt khi mục tiêu của nó bị thay đổi, không còn cần thiết hay hợp thời nữa.
2.2.5 Đánh giá
Đánh giá CTXH với cộng đồng nông thôn là duyệt xét để xem một chương trình CTXH nào đó có đạt được kết quả đề ra từ đầu hay không, hay đã đạt được với mức độ nào. Công việc quan trọng này đòi hỏi đo lường một số mặt của chương trình, bao gồm tiền bạc, thời gian, chất lượng của các dịch vụ ảnh hưởng đến cuộc sống của khách hàng.
Mục đích của đánh giá:
Giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc, trách lãng phí tài nguyên vào những giải pháp cộng đồng không hiệu quả hay kém hiệu quả.
Giúp phân tích ưu khuyết điểm của các chương trình CTXH để có thể kịp thời thay đổi cho hiệu quả hơn.
Bảo đảm chương trình cung cấp được những dịch vụ chúng ta muốn cung cấp cho người dân trong cộng đồng.
Xác định những hiệu quả mà không nằm trong kế hoạch từ trước.
Tuỳ theo mục đích của công tác đánh giá, chúng ta có thể lựa chọn những mô hình đánh giá khác nhau.
Những khái niệm chính của đánh giá:
Nhóm kiểm soát và nhóm thí nghiệm: nhóm kiểm soát là những người không nhận dịch vụ của chương trình đang được đánh giá. Nhóm thí nghiệm là nhóm người nhận dịch vụ. So sách giữa hai nhóm này sẽ thấy được mức độ hiệu quả của chương trình CTXH với cộng đồng nông thôn.
Biến số phụ thuộc: là mục tiêu của chương trình CTXH với cộng đồng nông thôn
Biến số độc lập: là những dịch vụ, biện pháp... tạo ra biến số phụ thuộc
Chọn mẫu: trong chương trình CTXH với cộng đồng nông thôn lớn, số người tham dự quá đông, không thể phỏng vấn tất cả cho công tác đánh giá, vì vậy phải chọn ra những nhóm đại diện gọi là mẫu. Có nhiều phương pháp chọn mẫu, phương pháp thường dùng trong CTXH là phương pháp ngẫu nhiên, theo đó tất cả những người tham gia chương trình CTXH đều có cơ hội được chọn vào mẫu là như nhau. Điều tối kị trong việc chọn mẫu là thành kiến.
Mô hình thí nghiệm: lựa chọn thành viên của hai nhóm kiểm soát và thí nghiệm một cách ngẫu nhiên, sau đó chủ động thay đổi các biện pháp giúp đỡ đối với các thành viên của hai nhóm để so sánh kết quả. Mô hình này có hiệu quả cao nhưng ít được áp dụng vì không phù hợp với đạo đức của nghề CTXH. Nhân viên CTXH không thể lựa chọn khách hàng tham gia hay không tham gia vào hai nhóm thí nghiệm và kiểm soát một cách ngẫu nhiên, nhân viên CTXH cũng không thể ngưng cung cấp dịch vụ, hay thay đổi các biện pháp giúp đỡ để xem hiệu quả của các biện pháp này đối với khách hàng sẽ như thế nào.
Mô hình thí nghiệm: sử dụng một số những đặc điểm của mô hình thí nghiệm, nhưng không áp đặt thành viên của hai nhóm thí nghiệm và kiểm soát một cách ngẫu nhiên, phương pháp này thường được dùng trong việc định giá các chương trình CTXH.
Chuẩn so sánh: đây là giá trị căn bản làm tiêu chuẩn cho việc so sánh, đánh giá hiệu quả của chương trình CTXH
Trị số trung bình: là tổng cộng các trị số chia cho số thành viên
Trợ ngại của công tác đánh giá
Đánh giá các chương trình CTXH là một công việc phức tạp, có nhiều khó khăn như sau:
Ø     Không lập kế hoạch đánh giá ngay từ đầu: đây là một sơ suất quan trọng, gây khó khăn nhiều cho công tác đánh giá các chương trình CTXH. Khi lập kế hoạch đánh giá từ đầu, những dụng cụ đánh giá sẽ được soạn sẵn. Mặt khác, một số thông tin cần thiết nếu không thu thập từ đầu có thể sẽ bị thay đổi theo thời gian, làm cho việc thu thập trở lên khó khăn, vì vậy càng để lâu công tác đánh giá càng khó khăn.
Ø     Chương trình CTXH không ổn định:
Ø     Mối quan hệ giữa người đánh giá và người cung cấp dịch vụ xã hội trong cộng đồng nông thôn:
Ø     Kết quả đánh giá không rõ ràng:
Ø     Kết quả đánh giá không được chấp nhận:
Ø     Công tác đánh giá không cần thiết và quá tốn kém:
Các phương pháp đánh giá:
Ø     Phương pháp số lượng: thu thập các con số khách quan (số lần xảy ra vấn nạn; số tuổi của người phạm pháp; trị giá trung bình của tài sản bị thất thoát....), so sánh những thông tin khách quan này với chuẩn so sánh sẽ biết được hiệu quả của chương trình CTXH nhằm cải thiện đời sống trong cộng đồng.
Ø     Phương pháp chất lượng: không chú ý đến các con số, mà đi sâu vào một số trường hợp cụ thể, phỏng vấn khách hàng, phân tích hồ sơ để tìm hiểu sâu về kinh nghiệm của khách hàng xem họ thay đổi như thế nào kể từ khi tham gia vào chương trình CTXH.
Các giai đoạn thực hành công tác đánh giá:
Ø     Giai đoạn 1: đề ra mục tiêu và tiêu chuẩn đo lường
Ø     Giai đoạn 2: chọn mẫu
Ø     Giai đoạn 3: chọn mô hình đánh giá
Ø     Giai đoạn 4: thu thập thông tin
Ø     Giai đoạn 5: phân tích thông tin
Ø     Giai đoạn 6: trình bày kết quả
Giá trị đạo đức trong công tác đánh giá:
Trong CTXH với cộng đồng nông thôn, ngoài những giá trị chung như trung thực, khách quan và kỹ lưỡng, người làm công tác đánh giá phải tôn trọng và coi an sinh của người dân là ưu tiên hàng đầu. Giá trị này thể hiện qua những hành vi sau:
Ø     Người dân được giải thích rõ ràng về mục đích của cuộc đánh giá và các phương pháp áp dụng, các rủi ro liên quan
Ø     Người dân có toàn quyền tự do tham gia hay không tham gia, sau khi nhận tham gia người dân có quyền ngưng tham gia bất cứ lúc nào và những quyết định này không ảnh hưởng đến quyền lợi hay dịch vụ của người dân đang nhận từ các cơ quan.
Ø     Chỉ thu âm hoặc thu hình sau khi đã giải thích rõ ràng việc sử dụng thông tin được người dân cho phép.
Ø     Quyền riêng tư của người dân được tuyệt đối tôn trọng và đảm bảo.
Ø                 Người làm công tác đánh giá sẽ trình bày trung thực kết qủa dù kết quả đó có lợi hay không có lợi cho bất kì ai.

1 nhận xét:

  1. Bạn lớp trưởng ơi, sao bạn không đưa kết quả thi của các môn trước vậy hjhj

    Trả lờiXóa